Đặt môi trường ở vị trí trung tâm của các quyết định phát triển

Thứ sáu - 04/09/2026 00:03

Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV đã xác lập định hướng mới về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.

Theo đó, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu được đặt ở vị trí trung tâm trong các quyết định phát triển, trở thành điều kiện, nền tảng cho chuyển đổi xanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất, sức cạnh tranh và một trong những động lực phát triển kinh tế nhanh, bền vững.

Công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu được gắn với các mục tiêu phát triển đất nước trong những thập niên tới. Ảnh: Vingroup.

Công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu được gắn với các mục tiêu phát triển đất nước trong những thập niên tới. Ảnh: Vingroup.

Từ bảo vệ môi trường đến kiến tạo động lực phát triển

TS. Tăng Thế Cường. Ảnh: NVCC.

TS. Tăng Thế Cường. Ảnh: NVCC.

Đánh giá 13 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, công tác bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội từng bước được nâng lên; hệ thống chính sách, pháp luật về môi trường và khí hậu ngày càng được hoàn thiện; công tác phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm, bảo tồn thiên nhiên, ứng phó với biến đổi khí hậu có nhiều chuyển biến.

Tuy nhiên, thực tiễn của quá trình phát triển đất nước đang đặt ra những yêu cầu mới. Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học, gia tăng các loại chất thải và áp lực lên tài nguyên thiên nhiên diễn biến phức tạp. Trong khi đó, yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng năng suất, sức cạnh tranh và khả năng chống chịu của nền kinh tế đòi hỏi phải đổi mới tư duy và phương thức phát triển.

Trong bối cảnh đó, Kết luận 75-KL/TW đã kế thừa những những quan điểm còn giá trị của Nghị quyết số 24-NQ/TW, đồng thời phát triển những chủ trương, quyết sách lớn với tư duy đột phá, tầm nhìn xa để giải quyết các vấn đề đặt ra trong thời kỳ mới. Nếu Nghị quyết số 24-NQ/TW xác định bảo vệ môi trường là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững và yêu cầu lấy phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm làm trọng tâm, thì Kết luận số 75-KL/TW đặt bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu trong tổng thể tư duy, tầm nhìn mới, ở vị trí trung tâm trong các quyết định phát triển; đồng thời xác định đây là điều kiện, nền tảng cho chuyển đổi xanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất, sức cạnh tranh và là một trong những động lực phát triển kinh tế nhanh, bền vững.

Như vậy, bảo vệ môi trường không chỉ được thực hiện sau khi các hoạt động phát triển đã được quyết định, mà phải được tích hợp ngay trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các quyết định đầu tư. Các giới hạn sinh thái, khả năng chịu tải của môi trường, khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu phải trở thành những căn cứ quan trọng trong lựa chọn mô hình và phương thức phát triển.

Từ cách tiếp cận đó, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, phát triển kinh tế carbon thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu không còn là những nội dung riêng biệt của công tác môi trường, mà ngày càng trở thành những cấu phần của mô hình tăng trưởng mới.

Chất lượng môi trường phải được đo bằng kết quả thực chất

Kết luận số 75-KL/TW xác định rõ mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, gắn công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậuvới các mục tiêu phát triển đất nước trong những thập niên tới.

Đến năm 2030, trọng tâm là nâng cao năng lực chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu và thiên tai; bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản và sinh kế của nhân dân; tập trung xử lý, phục hồi các khu vực ô nhiễm nghiêm trọng; kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải lớn; ngăn chặn suy giảm đa dạng sinh học, phục hồi hệ sinh thái; đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp.

Điểm đáng chú ý là các mục tiêu được lượng hóa bằng những chỉ tiêu cụ thể, tạo cơ sở để chuyển từ đánh giá dựa trên số lượng hoạt động sang đánh giá bằng kết quả đầu ra và chất lượng môi trường.

Trung ương đặt mục tiêu bảo đảm mức chi tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường. Ảnh: Kim Anh.

Trung ương đặt mục tiêu bảo đảm mức chi tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường. Ảnh: Kim Anh.

Trong giai đoạn 2026-2030, Trung ương đặt mục tiêu bảo đảm mức chi tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường, đồng thời tăng cường đầu tư cho hạ tầng bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; kiểm soát nghiêm ngặt nguồn thải, trong đó quan trắc tự động 100% các nguồn nước thải, khí thải lớn và bảo đảm xử lý nước thải đạt quy chuẩn tại các cụm công nghiệp.

Chất lượng môi trường sống cũng được lượng hóa bằng những chỉ tiêu cụ thể, như phấn đấu tối thiểu 80% số ngày có chất lượng không khí tốt và trung bình tại các đô thị đặc biệt; tỷ lệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt đạt 95% ở đô thị và 85% ở nông thôn. Đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi xanh, với mục tiêu tỷ trọng kinh tế xanh trong GDP đạt 10%, tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt tối thiểu 26,1% và giảm phát thải khí nhà kính ít nhất 9% theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Tầm nhìn đến năm 2045 hướng tới một Việt Nam có môi trường sống trong lành, hài hòa với thiên nhiên; hệ thống quản trị môi trường hiện đại; khả năng thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu; trong đó kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp trở thành những phương thức phát triển chủ đạo.

Hiệu quả của công tác bảo vệ môi trường không chỉ được đo bằng số lượng văn bản được ban hành, số lượng dự án được triển khai hay số lượng cơ sở được kiểm tra, mà phải được phản ánh bằng chất lượng môi trường sống, mức độ an toàn của cộng đồng, khả năng chống chịu của hệ sinh thái và hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Từ quản lý môi trường sang quản trị môi trường hiện đại 

Để đạt được những mục tiêu đề ra, Kết luận số 75-KL/TW đặt ra 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, từ tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hoàn thiện thể chế, huy động nguồn lực, kiểm soát ô nhiễm, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học đến thích ứng với biến đổi khí hậu, chuyển đổi xanh, phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số, tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế.

Phương thức quản trị môi trường chuyển từ xử lý hậu quả sang phòng ngừa từ sớm, từ xa. Ảnh: TM.

Phương thức quản trị môi trường chuyển từ xử lý hậu quả sang phòng ngừa từ sớm, từ xa. Ảnh: TM.

Có thể thấy xuyên suốt các nhóm nhiệm vụ này là ba chuyển dịch lớn trong phương thức quản trị môi trường.

Thứ nhất, chuyển từ xử lý hậu quả sang phòng ngừa từ sớm, từ xa.

Thực tiễn cho thấy chi phí xử lý ô nhiễm và khắc phục sự cố luôn lớn hơn nhiều so với chi phí phòng ngừa. Vì vậy, kiểm soát nguồn thải, đánh giá rủi ro, cảnh báo sớm, giám sát liên tục và chủ động ứng phó phải trở thành phương thức quản lý chủ đạo. Cùng với đó, cần tập trung giải quyết những vấn đề môi trường bức xúc, những điểm nóng về ô nhiễm không khí, nguồn nước, chất thải và các khu vực có nguy cơ cao; từng bước quản lý tổng thải lượng chất ô nhiễm phù hợp với sức chịu tải của môi trường.

Thứ hai, chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị môi trường hiện đại dựa trên dữ liệu và mức độ rủi ro.

Chuyển đổi số không chỉ nhằm số hóa các thủ tục hành chính mà phải tạo ra phương thức quản trị mới. Dữ liệu quan trắc, dữ liệu nguồn thải, dữ liệu về chất lượng môi trường và khí hậu phải được kết nối, chia sẻ và sử dụng trực tiếp trong công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra, dự báo và ra quyết định. Quản lý theo rủi ro cũng cho phép tập trung nguồn lực vào những ngành, lĩnh vực, cơ sở và khu vực có nguy cơ gây tác động lớn đến môi trường, đồng thời giảm những yêu cầu không cần thiết đối với các đối tượng có mức độ rủi ro thấp.

Thứ ba, chuyển từ coi bảo vệ môi trường là khoản chi phí phải chi trả sang tư duy đầu tư cho tăng trưởng xanh.

Nguồn lực dành cho môi trường cần được nhìn nhận là đầu tư cho chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Hạ tầng xử lý chất thải, công nghệ sạch, tiết kiệm tài nguyên, năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp phát thải thấp hay các giải pháp dựa vào thiên nhiên đều có thể tạo ra giá trị kinh tế mới, việc làm mới và thị trường mới.

Đây cũng là lý do Kết luận 75-KL/TW nhấn mạnh việc huy động đa dạng các nguồn lực, trong đó ngân sách nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, đồng thời thu hút nguồn lực xã hội, quốc tế và tài chính xanh cho bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Từ chủ trương đến hành động: “6 rõ” để tạo chuyển biến thực chất

Một chủ trương đúng chỉ có thể tạo ra chuyển biến khi được cụ thể hóa thành nhiệm vụ, sản phẩm, tiến độ và trách nhiệm rõ ràng.

Thực hiện Kết luận số 75-KL/TW, Bộ Chính trị đã ban hành Chương trình hành động số 31-CTr/TW; Chính phủ ban hành Nghị quyết số 208/NQ-CP ngày 4/8/2026 về Chương trình hành động thực hiện Kết luận. Trên cơ sở đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã khẩn trương ban hành Quyết định số 3088/QĐ-BNNMT ngày 5/8/2026, cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của Trung ương, Bộ Chính trị và Chính phủ thành những nhiệm vụ cụ thể của Bộ.

Điểm quan trọng trong tổ chức thực hiện là yêu cầu “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền. “6 rõ” không chỉ là yêu cầu về phương pháp điều hành, mà phải trở thành nguyên tắc để chuyển các mục tiêu về môi trường và khí hậu thành kết quả có thể đo lường, kiểm tra và đánh giá.

Phân cấp, phân quyền đi đôi với hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và hậu kiểm theo mức độ rủi ro. Đây là điều kiện để vừa phát huy tính chủ động của địa phương, vừa bảo đảm thống nhất trong quản lý nhà nước và kỷ luật, kỷ cương trong thực thi pháp luật về môi trường.

Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tập trung vào các nhóm nhiệm vụ trọng tâm như: hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật; nâng cao hiệu lực thực thi; giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc; kiểm soát nguồn ô nhiễm; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; thúc đẩy chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực; tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế. Kế hoạch của Bộ đã cụ thể hóa các nhiệm vụ này thành những nội dung triển khai phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao của từng đơn vị trực thuộc.

Trong quá trình đó, yêu cầu quan trọng là gắn trách nhiệm với kết quả đầu ra. Đối với các nhiệm vụ đầu tư, phải xác định rõ mục tiêu, chỉ tiêu và phương án vận hành sau đầu tư. Đối với quản lý môi trường, phải nâng cao chất lượng dữ liệu, tăng cường sử dụng dữ liệu quan trắc phục vụ quản lý, thanh tra, kiểm tra. Đối với chuyển đổi xanh, phải hình thành các cơ chế và công cụ đủ sức tạo động lực để doanh nghiệp, người dân tham gia.

Kiến tạo động lực phát triển xanh, nhanh và bền vững

Kết luận số 75-KL/TW không chỉ đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, mà còn mở ra một cách tiếp cận mới về mối quan hệ giữa môi trường và mô hình phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu phải được đặt ở vị trí trung tâm trong các quyết định phát triển, trở thành điều kiện, nền tảng cho chuyển đổi xanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất, sức cạnh tranh và là một trong những động lực phát triển kinh tế nhanh, bền vững.

Bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu phải được đặt ở vị trí trung tâm trong các quyết định phát triển. Ảnh: TM.

Bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu phải được đặt ở vị trí trung tâm trong các quyết định phát triển. Ảnh: TM.

Từ cách tiếp cận này, chuyển đổi xanh không chỉ là yêu cầu đối với lĩnh vực môi trường mà phải trở thành một phương thức phát triển, được tích hợp trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và quyết định đầu tư. Sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải, phát triển kinh tế tuần hoàn, sản xuất và tiêu dùng xanh, phát triển năng lượng sạch, nông nghiệp phát thải thấp và hạ tầng xanh vừa góp phần giải quyết các vấn đề môi trường, vừa tạo ra không gian phát triển mới, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Trong kỷ nguyên mới, yêu cầu phát triển nhanh phải đi cùng với phát triển bền vững, nâng cao chất lượng tăng trưởng và khả năng chống chịu của nền kinh tế. Điều đó đòi hỏi phải chuyển mạnh từ tư duy “xử lý” sang chủ động phòng ngừa, từ quản lý truyền thống sang quản trị hiện đại, từ ứng phó sang chủ động thích ứng và kiến tạo phát triển; đồng thời huy động sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp, người dân và toàn xã hội.

Đầu tư cho bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu vì vậy không chỉ là đầu tư để khắc phục những hệ quả của quá trình phát triển, mà còn là đầu tư cho tương lai, cho sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân, cho năng lực chống chịu và sức cạnh tranh dài hạn của nền kinh tế. Đây cũng là cơ sở để hình thành những động lực tăng trưởng mới, tạo thêm giá trị từ tài nguyên, công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và các mô hình sản xuất, kinh doanh xanh.

Tinh thần đó phù hợp với định hướng xây dựng “nền văn minh sinh thái” mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh, trong đó phát triển kinh tế phải hài hòa với thiên nhiên, bảo đảm môi trường sống trong lành cho nhân dân và hướng tới một tương lai thịnh vượng, bền vững. Bảo vệ môi trường vì thế không đứng bên ngoài tiến trình phát triển, mà phải trở thành một bộ phận hữu cơ, một nền tảng và động lực của tiến trình phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

Cục trưởng Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Nguồn tin: nongnghiepmoitruong.vn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây