Chuyên gia cho rằng điện rác không phải nguồn điện chủ lực, hiệu quả còn hạn chế và phụ thuộc lớn vào nguồn rác, trong khi nguy cơ thiếu đầu vào và chi phí cao vẫn hiện hữu.
Trong bức tranh chuyển dịch năng lượng và xử lý môi trường, điện rác được kỳ vọng như một "lời giải kép": Vừa giảm áp lực chất thải, vừa bổ sung nguồn điện. Tuy nhiên, đi cùng kỳ vọng là bài toán cân đối giữa công suất nhà máy và nguồn nguyên liệu rác đầu vào - yếu tố phụ thuộc trực tiếp vào lượng phát sinh và tiến trình phân loại, tái chế.
Thực tế, làn sóng đầu tư điện rác đang tăng nhanh ở nhiều địa phương, với hàng loạt dự án được cấp chủ trương, đưa vào quy hoạch trong thời gian ngắn. Khi quy mô mở rộng, vấn đề không chỉ là xây thêm nhà máy, mà là đảm bảo nguồn rác đủ và ổn định để vận hành.
Trong khi đó, công nghệ điện rác chỉ vận hành hiệu quả khi duy trì công suất ổn định. Nguồn đầu vào lại phụ thuộc vào thực tế phát sinh và chính sách môi trường, do đó việc cân đối giữa quy mô đầu tư và nguồn nguyên liệu rác đang trở thành thách thức không nhỏ.
Theo TS Nguyễn Huy Hoạch, chuyên gia năng lượng, thành viên Hội đồng khoa học Tạp chí Năng lượng Việt Nam, đóng góp của điện rác vào hệ thống điện là không lớn, chủ yếu mang ý nghĩa đa dạng hóa nguồn cung và kết hợp xử lý chất thải, giảm áp lực chôn lấp.
"Hiệu quả phát điện từ rác không cao, nhưng có thể coi là "một mũi tên trúng hai đích": Vừa bảo vệ môi trường, vừa tận dụng được một phần năng lượng. Tuy nhiên, nguồn nguyên liệu cho các nhà máy này không ổn định và cũng không phải vô tận", ông nói.
Ngay cả các loại phụ phẩm như rơm rạ, thân ngô hay phế phẩm gỗ nếu đưa vào đốt cũng phải thu mua, làm tăng chi phí. Trong khi đó, giá bán điện rác dù cao hơn một số nguồn khác nhưng thời gian hoàn vốn vẫn kéo dài, hiệu quả kinh tế không thực sự hấp dẫn.
Theo vị chuyên gia, một vấn đề lớn hiện nay là mâu thuẫn quyền lợi giữa các đơn vị thu gom rác và nhà máy điện rác. Trước đây, việc tính khối lượng rác chủ yếu theo xe, mang tính ước lượng và được ngân sách hỗ trợ.
Nhưng khi chuyển sang nhà máy điện rác, việc cân đo chính xác khiến phát sinh chênh lệch, dẫn đến việc một số đơn vị không mặn mà hợp tác, thậm chí gây khó khăn trong việc cung cấp rác.
"Bên cạnh đó, ngay cả khi đốt rác phát điện, các nhà máy vẫn phải đầu tư hệ thống xử lý khí thải, bụi… để đảm bảo tiêu chuẩn môi trường, làm tăng thêm chi phí vận hành. Vì vậy, dù giá điện rác ở mức cao, công suất các nhà máy hiện vẫn nhỏ và chưa đóng góp đáng kể", TS Nguyễn Huy Hoạch đánh giá.
Trong khi đó, PGS.TS Phùng Chí Sỹ - Phó Chủ tịch Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam cho biết xu hướng hiện nay là nhiều địa phương đẩy mạnh đầu tư nhà máy điện rác, coi đây là giải pháp trước mắt để xử lý rác thay cho chôn lấp. So với cách làm cũ, đốt rác phát điện giúp giảm ô nhiễm, tận dụng rác thành năng lượng và phù hợp với định hướng phát triển năng lượng tái tạo.
"Tuy nhiên, cần nhìn nhận rõ đây chủ yếu là giải pháp "chữa cháy" trong ngắn hạn. Về lâu dài, mục tiêu cốt lõi vẫn là chuyển rác thành tài nguyên thông qua phân loại tại nguồn và tái chế. Theo đó, rác hữu cơ cần được xử lý thành phân bón, rác nhựa, giấy được tái chế, chỉ phần còn lại không thể tận dụng mới đưa đi đốt", ông nhìn nhận.
Trong khi đó, thực tế tại Việt Nam hiện nay vẫn phổ biến tình trạng đốt rác hỗn hợp, khiến nhiều tài nguyên có thể tái sử dụng bị lãng phí, đi ngược lại định hướng kinh tế tuần hoàn.
Không chỉ vậy, vị chuyên gia cho rằng cách làm này còn chưa phù hợp với xu hướng quốc tế. Nhiều tổ chức tài chính không khuyến khích thậm chí không cấp vốn cho các dự án đốt rác nếu không gắn với phân loại và tái chế.
"Dù điện rác có thể giúp nhanh chóng đạt mục tiêu giảm tỷ lệ chôn lấp xuống mức thấp, nhưng lại có nguy cơ làm chệch hướng các mục tiêu dài hạn về môi trường và sử dụng hiệu quả tài nguyên", vị chuyên gia đánh giá.
Một vấn đề khác là sự không đồng bộ với quy định pháp luật. Luật Bảo vệ môi trường yêu cầu phân loại rác tại nguồn, nhưng nếu tiếp tục thu gom và đốt rác hỗn hợp, sẽ không thúc đẩy được việc tái chế như kỳ vọng.
Không chỉ dừng ở hiệu quả kinh tế hay vận hành, bài toán nguồn nguyên liệu cũng đang đặt ra rõ nét hơn trong thực tế. PGS.TS Phùng Chí Sỹ chỉ ra thách thức nguồn nguyên liệu cho các nhà máy điện rác cũng đối mặt nhiều rủi ro.
Nếu việc phân loại rác tại nguồn được thực hiện đầy đủ theo đúng lộ trình, lượng rác có thể đưa vào đốt sẽ giảm đáng kể. Khi đó, nếu không tính toán kỹ, nguy cơ xảy ra là nhà máy xây xong nhưng không có đủ rác để vận hành. Điều này đặt ra bài toán cân đối ngay từ khâu quy hoạch, bởi nếu đầu tư vượt nhu cầu thực tế có thể dẫn tới lãng phí nguồn lực và chi phí xã hội không nhỏ.
"Ở một số quốc gia như Trung Quốc, giai đoạn đầu từng chứng kiến làn sóng phát triển các nhà máy đốt rác rất nhanh và mạnh. Tuy nhiên, sau một thời gian, khi công tác phân loại và giảm phát sinh rác được đẩy mạnh, lượng rác đầu vào không còn dồi dào như trước, dẫn tới tình trạng một số nhà máy thiếu nguyên liệu để vận hành", ông dẫn chứng.
Để duy trì hoạt động, các nhà máy này có thể mở rộng sang xử lý các loại rác khác như rác công nghiệp. Tuy vậy, với các loại rác có tính chất đặc thù hoặc nguy hại, yêu cầu về công nghệ và tiêu chuẩn môi trường khắt khe hơn, đòi hỏi phải đầu tư, cải tiến hoặc chuyển đổi công nghệ, kéo theo chi phí tăng lên đáng kể.
Tương tự, TS Nguyễn Huy Hoạch cũng cho rằng nguy cơ thiếu rác cho các nhà máy phát điện là hiện hữu. Ngay cả khi mỗi tỉnh, thành phố chỉ có một nhà máy, vẫn đã xảy ra tình trạng không được cung cấp đủ rác, chủ yếu do xung đột lợi ích giữa đơn vị thu gom và nhà máy điện rác.
"Bên cạnh đó, hiệu quả của mô hình này cần được đánh giá thận trọng. Một số trường hợp được quảng bá từ nước ngoài, như ở Trung Quốc, có thể mang tính giới thiệu công nghệ, nhưng để khẳng định hiệu quả thực sự thì cần khảo sát kỹ, đặc biệt là vấn đề nguồn cung rác", ông nói.
Vị chuyên gia nêu thực tế đã có những nhà máy vận hành vài năm đã phải dừng hoạt động do thiếu nguyên liệu, dù tổng lượng rác ngoài xã hội không hẳn thiếu, mà nằm ở cơ chế phân bổ và lợi ích giữa các bên.
Về chính sách, theo TS Nguyễn Huy Hoạch, khó khăn lớn nhất hiện nay là bài toán thu hồi vốn. Doanh nghiệp chỉ quyết định đầu tư khi có thể tính toán rõ thời gian hoàn vốn, trong khi điện rác dù có giá cao nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro, khiến khả năng thu hồi vốn trở nên bấp bênh, thậm chí chưa kịp hoàn vốn thì thiết bị đã khấu hao.
Do đó, ông cho rằng việc phát triển cần được cân nhắc kỹ trong quy hoạch. Điện rác nên được nhìn nhận như một giải pháp kết hợp: Vừa xử lý môi trường, vừa bổ sung một phần nhỏ nguồn điện, thay vì kỳ vọng phát triển quy mô lớn. Nếu muốn thu hút đầu tư, có thể cần thêm cơ chế ưu đãi, nhưng điều này cũng đồng nghĩa chi phí cuối cùng có thể chuyển sang người dân.
Thực tế, ngay tại các quốc gia phát triển mạnh điện rác như Trung Quốc, tình trạng thiếu nguyên liệu cũng đã xuất hiện. Vì vậy, nếu mở rộng ồ ạt, nguy cơ thiếu rác cho các nhà máy trong tương lai là rất rõ ràng.
PGS.TS Phùng Chí Sỹ cho rằng việc phát triển điện rác cần được tính toán thận trọng trong quy hoạch tổng thể. Vai trò chính của điện rác nên đặt ở xử lý môi trường, kết hợp tận dụng năng lượng, thay vì coi đây là nguồn điện chủ lực. Đồng thời, cần ưu tiên xây dựng hệ thống phân loại - tái chế hiệu quả, đảm bảo hài hòa giữa mục tiêu ngắn hạn và chiến lược phát triển bền vững lâu dài.
Vị chuyên gia cũng đồng tình rằng vấn đề hiện nay là thiếu cân đối nguồn đầu vào. Nếu cấp phép nhiều nhà máy nhưng không có cơ chế đảm bảo nguồn rác ổn định, các nhà máy có thể rơi vào tình trạng thiếu nguyên liệu để vận hành.
"Nhà máy xây xong mà không có rác để đốt thì rất lãng phí. Đây là rủi ro có thể xảy ra nếu quy hoạch không đi kèm điều tiết nguồn rác", ông nói đồng thời lưu ý thêm một điểm nghẽn khác là hạ tầng truyền tải điện. Thực tế có dự án hoàn thành nhưng chưa thể phát điện do chưa có đường dây đấu nối.
Ở góc độ tổng thể, chuyên gia đánh giá Việt Nam hiện chưa đến mức phải hạn chế phát triển điện rác, bởi tỷ lệ chôn lấp vẫn còn cao và nhu cầu xử lý rác là rất lớn. Tuy nhiên, vấn đề cần quan tâm là cơ chế và quy hoạch dài hạn, đặc biệt là cách phân bổ nguồn rác và xử lý lượng rác tồn đọng.
"Theo đó, lượng rác chôn lấp lâu năm hoàn toàn có thể trở thành nguồn "nguyên liệu" nếu có cơ chế phù hợp để khai thác, nhưng hiện vẫn vướng về thủ tục, vận chuyển và trách nhiệm chi trả. Rác không thiếu, vấn đề là cơ chế để đưa rác vào nhà máy", chuyên gia nhấn mạnh.
Ông cho rằng nếu giải được bài toán này, không chỉ giúp các nhà máy vận hành ổn định mà còn góp phần xử lý các bãi rác cũ, tạo thêm quỹ đất và giá trị kinh tế cho địa phương.
Chia sẻ thêm về chính sách phát triển các dự án, PGS.TS Phùng Chí Sỹ cho biết điện rác đang được xếp vào nhóm dự án "xanh" nên trên lý thuyết có nhiều cơ chế hỗ trợ như ưu đãi vốn, lãi suất, đất đai, chi phí… Thậm chí trước đây còn có cơ chế giá điện hỗ trợ, tuy nhiên hiện nay phần lớn phải chuyển sang đàm phán mua bán điện, khiến tính hấp dẫn giảm đi.
Tuy vậy, một trong những điểm nghẽn lớn của các dự án điện rác hiện nay đang nằm ở thủ tục. Dù là lĩnh vực được khuyến khích, nhưng quy trình triển khai dự án còn phức tạp, kéo dài qua nhiều khâu như xin chủ trương, ý kiến Thủ tướng, thỏa thuận đấu nối điện với Bộ Công Thương…
"Có dự án mất tới vài năm vẫn chưa hoàn tất, làm tăng chi phí và khiến nhà đầu tư nản lòng. Khuyến khích nhưng thủ tục rườm rà thì rất khó đi vào thực tế", vị chuyên gia nhận xét.
Nguồn tin: dantri.com.vn
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn