Trao đổi kinh nghiệm EPR, kinh tế tuần hoàn từ Đức và Na Uy

Thứ hai - 01/06/2026 00:14

Đoàn công tác Bộ NN-MT trao đổi kinh nghiệm EPR, DRS và kinh tế tuần hoàn tại Đức, Na Uy.

Đoàn công tác của Bộ Nông nghiệp và Môi trường trao đổi kinh nghiệm thực thi chính sách quản lý chất thải, trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập khẩu (EPR), thúc đẩy kinh tế tuần hoàn tại Cộng hòa Liên bang Đức và Vương quốc Nauy.

Đoàn đến thăm và làm việc tại Nhà máy phân loại, tái chế chất thải nhựa công nghệ cao Hündgen tại North Rhine-Westphalia, CHLB Đức. Ảnh: PV.

Đoàn đến thăm và làm việc tại Nhà máy phân loại, tái chế chất thải nhựa công nghệ cao Hündgen tại North Rhine-Westphalia, CHLB Đức. Ảnh: PV.

Trong khuôn khổ chương trình công tác tại Cộng hòa Liên bang Đức và Vương quốc Na Uy từ ngày 18 đến ngày 22 tháng 5 năm 2026, Đoàn công tác của Bộ Nông nghiệp và Môi trường do Thứ trưởng Lê Công Thành làm Trưởng đoàn đã có các buổi làm việc với cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập khẩu (EPR), doanh nghiệp công nghệ, cơ sở thu gom, phân loại, tái chế chất thải và các đối tác quốc tế nhằm nghiên cứu kinh nghiệm về quản lý chất thải rắn sinh hoạt, trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập khẩu (EPR), hệ thống đặt cọc hoàn trả (DRS) và kinh tế tuần hoàn.

Tham gia Đoàn công tác có ông Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, lãnh đạo các đơn vị gồm Cục Môi trường, Vụ Pháp chế, Vụ Hợp tác quốc tế cùng đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, Đại sứ quán Na Uy tại Việt Nam và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP).

Chuyến công tác được tổ chức trong bối cảnh Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang nghiên cứu hoàn thiện chính sách pháp luật về quản lý chất thải, trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất và kinh tế tuần hoàn; đồng thời triển khai các nội dung hợp tác trong khuôn khổ Đối tác Chiến lược Xanh Việt Nam - Na Uy được thiết lập vào tháng 4/2026.

Nghiên cứu kinh nghiệm của Đức về EPR, DRS và kinh tế tuần hoàn

Tại Đức, Đoàn công tác đã làm việc với các tổ chức thực hiện EPR, doanh nghiệp công nghệ môi trường và các cơ sở thu gom, phân loại, tái chế chất thải nhằm tìm hiểu thực tiễn triển khai các chính sách quản lý chất thải và kinh tế tuần hoàn.

Chia sẻ kinh nghiệm về triển khai EPR đối với bao bì tại Tổ chức Trách nhiệm nhà sản xuất (PRO) Reclay. Ảnh: PV.

Chia sẻ kinh nghiệm về triển khai EPR đối với bao bì tại Tổ chức Trách nhiệm nhà sản xuất (PRO) Reclay. Ảnh: PV.

Qua các buổi làm việc, Đoàn nhận thấy Đức đã xây dựng được hệ thống quản lý chất thải tương đối hoàn chỉnh theo định hướng kinh tế tuần hoàn, trong đó EPR được xem là một trong những công cụ chính sách quan trọng để thúc đẩy tái chế và sử dụng hiệu quả tài nguyên. Trách nhiệm của nhà sản xuất, nhập khẩu được mở rộng trong toàn bộ vòng đời sản phẩm, từ khâu thiết kế, sản xuất, tiêu dùng đến thu hồi và tái chế sau sử dụng.

Theo mô hình của Đức, nhà sản xuất và nhà nhập khẩu có trách nhiệm tài chính và trách nhiệm tổ chức đối với việc thu gom, phân loại và tái chế sản phẩm, bao bì sau sử dụng. Nhà nước không trực tiếp tổ chức các hoạt động thu gom và tái chế mà tập trung xây dựng chính sách, quy định mục tiêu môi trường, quản lý dữ liệu và giám sát việc thực hiện.

Một trong những đặc điểm nổi bật của hệ thống EPR tại Đức là vai trò trung tâm của các tổ chức thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập khẩu (PRO). Các tổ chức này thay mặt doanh nghiệp tổ chức hệ thống thu gom, ký kết hợp đồng với các đơn vị tái chế, bảo đảm hoàn thành các mục tiêu thu gom và tái chế theo quy định. Việc cho phép nhiều PRO cùng hoạt động tạo ra môi trường cạnh tranh, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và tối ưu hóa chi phí thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp.

Đoàn cũng ghi nhận kinh nghiệm của Đức trong việc xây dựng hệ thống dữ liệu phục vụ quản lý EPR. Các doanh nghiệp có trách nhiệm đăng ký, kê khai khối lượng sản phẩm, bao bì đưa ra thị trường và báo cáo kết quả thực hiện nghĩa vụ tái chế. Đây được xem là nền tảng quan trọng để bảo đảm tính minh bạch của hệ thống và nâng cao hiệu quả giám sát.

Một nội dung được các đối tác Đức nhấn mạnh là EPR không được triển khai tách rời với hệ thống quản lý chất thải rắn sinh hoạt. Việc phân loại chất thải tại nguồn, hệ thống thu gom riêng biệt cho từng dòng chất thải và hạ tầng tái chế được xây dựng đồng bộ nhằm tạo nguồn nguyên liệu đầu vào ổn định cho ngành tái chế và nâng cao hiệu quả thực hiện EPR.

Đối với bao bì đồ uống, Đức áp dụng hệ thống đặt cọc hoàn trả (DRS) như một công cụ hỗ trợ thực hiện EPR đối với một số dòng sản phẩm đặc thù. Hệ thống này giúp nâng cao tỷ lệ thu gom chai nhựa và lon đồ uống sau sử dụng, tạo ra nguồn nguyên liệu có chất lượng cao phục vụ tái chế và tái sản xuất.

Qua nghiên cứu thực tiễn tại Đức, Đoàn nhận thấy xu hướng quản lý hiện nay đang chuyển dần từ quản lý chất thải sang quản lý vòng đời sản phẩm và quản lý tài nguyên. Các chính sách ngày càng chú trọng thúc đẩy thiết kế sinh thái, tăng khả năng tái chế của sản phẩm và giảm sử dụng các vật liệu khó xử lý sau tiêu dùng.

Trao đổi kinh nghiệm với Tổ chức Trách nhiệm nhà sản xuất (PRO) GreenDot về thiết lập, vận hành hệ thống thực hiện EPR và chiến lược tăng tỷ lệ tái chế đối với bao bì nhựa tại Na Uy. Ảnh: PV.

Trao đổi kinh nghiệm với Tổ chức Trách nhiệm nhà sản xuất (PRO) GreenDot về thiết lập, vận hành hệ thống thực hiện EPR và chiến lược tăng tỷ lệ tái chế đối với bao bì nhựa tại Na Uy. Ảnh: PV.

Nghiên cứu kinh nghiệm của Na Uy về EPR, DRS và kinh tế tuần hoàn

Trong thời gian công tác tại Na Uy, Đoàn đã làm việc với các cơ quan quản lý môi trường, các tổ chức thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, đơn vị vận hành hệ thống đặt cọc hoàn trả đối với bao bì đồ uống và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tái chế, kinh tế tuần hoàn.

Qua các buổi làm việc, Đoàn nhận thấy EPR được Na Uy xác định là một trong những công cụ chính sách quan trọng nhằm thực hiện nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, đồng thời tạo động lực cho doanh nghiệp tham gia tích cực vào quá trình thu gom, tái chế và sử dụng hiệu quả tài nguyên. EPR không được xem là một chính sách độc lập mà được tích hợp trong chiến lược tổng thể về tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải.

Một trong những đặc điểm nổi bật của hệ thống EPR tại Na Uy là các tổ chức thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập khẩu (PRO) do doanh nghiệp thành lập đảm nhiệm và hoạt động phi lợi nhuận. Các tổ chức này thay mặt doanh nghiệp thực hiện việc thu gom, vận chuyển, phân loại và tái chế các dòng chất thải thuộc phạm vi trách nhiệm của nhà sản xuất. Trong khi đó, cơ quan quản lý nhà nước tập trung vào việc xây dựng chính sách, quy định mục tiêu môi trường và giám sát việc thực hiện.

Đoàn đến thăm và làm việc tại Nhà máy phân loại nhựa OMRA ứng dụng công nghệ cảm biến tại Hobøl, Na Uy. Ảnh: PV.

Đoàn đến thăm và làm việc tại Nhà máy phân loại nhựa OMRA ứng dụng công nghệ cảm biến tại Hobøl, Na Uy. Ảnh: PV.

Làm việc với Chủ tịch Tập đoàn TOMRA, bà Tove Andersen. Trao đổi về các giải pháp công nghệ của Tập đoàn TOMRA trong đó có hệ thống đặt cọc hoàn trả DRS như một giải pháp thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và thực hiện các quy định về EPR. Thảo luận triển khai các dự án thí điểm tại Việt Nam. Ảnh: PV.

Làm việc với Chủ tịch Tập đoàn TOMRA, bà Tove Andersen. Trao đổi về các giải pháp công nghệ của Tập đoàn TOMRA trong đó có hệ thống đặt cọc hoàn trả DRS như một giải pháp thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và thực hiện các quy định về EPR. Thảo luận triển khai các dự án thí điểm tại Việt Nam. Ảnh: PV.

Qua trao đổi với các cơ quan quản lý và tổ chức thực hiện EPR, Đoàn nhận thấy việc giao cho doanh nghiệp chủ động tổ chức thực hiện nghĩa vụ giúp huy động hiệu quả nguồn lực xã hội, giảm gánh nặng tổ chức thực hiện cho Nhà nước. Trong quản lý chất thải, Nauy thực hiện nhiều giải pháp phân loại để giảm thiểu chất thải phải xử lý, tăng cường thu hồi chất thải có giá trị; thực hiện thu gom chất thải với khối lượng lớn từ nhiều thành phố về khu phân loại tập trung để tạo ra nhiều sản phẩm, nguyên liệu từ chất thải để cung cấp cho các doanh nghiệp trong nước có nhu cầu tái chế, thậm chí xuất sang các nước trong khu vực để tiếp tục tái chế.

Na Uy cũng chú trọng áp dụng các công cụ kinh tế nhằm thúc đẩy thiết kế sinh thái và nâng cao khả năng tái chế của sản phẩm. Các cơ chế tài chính được thiết kế theo hướng khuyến khích doanh nghiệp sử dụng vật liệu dễ tái chế, tăng hàm lượng vật liệu tái chế trong sản phẩm và hạn chế sử dụng các loại vật liệu khó xử lý sau tiêu dùng.

Gặp gỡ và làm việc với Quốc vụ khanh Bộ Khí hậu và Môi trường Na Uy Ông Kristoffer Hansen. Ảnh: PV.

Gặp gỡ và làm việc với Quốc vụ khanh Bộ Khí hậu và Môi trường Na Uy Ông Kristoffer Hansen. Ảnh: PV.

Đối với bao bì đồ uống, Na Uy vận hành hệ thống đặt cọc hoàn trả được đánh giá là một trong những mô hình hiệu quả hàng đầu thế giới. Hệ thống được tổ chức với sự tham gia của nhà sản xuất, nhà bán lẻ và người tiêu dùng, tạo thành một chu trình thu gom tương đối khép kín đối với chai nhựa và lon đồ uống sau sử dụng. Qua khảo sát thực tế, Đoàn nhận thấy hệ thống này không chỉ góp phần nâng cao tỷ lệ thu gom mà còn tạo nguồn nguyên liệu có chất lượng cao cho hoạt động tái chế, qua đó hỗ trợ thực hiện các mục tiêu kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải.

Một nội dung được phía Na Uy nhiều lần nhấn mạnh là mối liên hệ giữa EPR, DRS, phân loại chất thải ở tất cả các công đoạn trong quy trình của dòng chất thải và phát triển thị trường vật liệu tái chế. Các chính sách này được thiết kế như những hợp phần của một hệ thống thống nhất nhằm duy trì giá trị của vật liệu trong nền kinh tế càng lâu càng tốt, qua đó giảm khai thác tài nguyên nguyên sinh và giảm tác động môi trường.

Thúc đẩy hợp tác Việt Nam - Na Uy về môi trường, tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn

Trong khuôn khổ chuyến công tác tại Na Uy, sáng ngày 20/5/2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành đã có các buổi làm việc với Quốc vụ khanh Bộ Khí hậu và Môi trường Na Uy Kristoffer André Hansen và Quốc vụ khanh Bộ Ngoại giao Na Uy Astrid Bergmål nhằm trao đổi về hợp tác trong lĩnh vực môi trường, biến đổi khí hậu, tăng trưởng xanh và các ưu tiên triển khai Đối tác Chiến lược Xanh Việt Nam – Na Uy.

Cùng với Thứ trưởng Lê Công Thành (giữa) còn có Đại sứ Việt Nam tại Na Uy Đinh Nho Hưng (thứ hai từ trái sang) và Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Quốc hội Ông Tạ Đình Thi (thứ ba từ phải sang). Ảnh: PV.

Cùng với Thứ trưởng Lê Công Thành (giữa) còn có Đại sứ Việt Nam tại Na Uy Đinh Nho Hưng (thứ hai từ trái sang) và Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Quốc hội Ông Tạ Đình Thi (thứ ba từ phải sang). Ảnh: PV.

Làm việc với Quốc vụ khanh Bộ ngoại giao Na Uy Bà Astrid Bergmål (giữa). Ảnh: PV.

Làm việc với Quốc vụ khanh Bộ ngoại giao Na Uy Bà Astrid Bergmål (giữa). Ảnh: PV.

Trao đổi kinh nghiệm thực thi chính sách quản lý chất thải, trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập khẩu (EPR), thúc đẩy kinh tế tuần hoàn với Cục Môi trường Na Uy. Ảnh: PV.

Trao đổi kinh nghiệm thực thi chính sách quản lý chất thải, trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập khẩu (EPR), thúc đẩy kinh tế tuần hoàn với Cục Môi trường Na Uy. Ảnh: PV.

Tham dự các buổi làm việc có Đại sứ Việt Nam tại Na Uy Đinh Nho Hưng, ông Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cùng đại diện các cơ quan liên quan của hai bên.

Tại các cuộc làm việc, hai bên đã trao đổi về tiến trình đàm phán Thỏa thuận toàn cầu về ô nhiễm nhựa; các chính sách quản lý chất thải, trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, hệ thống đặt cọc hoàn trả và các giải pháp thúc đẩy kinh tế tuần hoàn. Hai bên thống nhất quan điểm về yêu cầu bảo đảm chuyển đổi công bằng, tăng cường hỗ trợ tài chính, công nghệ và nâng cao năng lực cho các nước đang phát triển trong quá trình chuyển đổi xanh.

Thứ trưởng Lê Công Thành nhấn mạnh, một hiệp ước toàn cầu hiệu quả về ô nhiễm nhựa không chỉ có ý nghĩa môi trường mà còn có thể tạo ra động lực kinh tế mới, góp phần thúc đẩy kinh tế tuần hoàn cho nhựa, quản lý bền vững chất thải nhựa và huy động nguồn lực cho tái chế, tái sử dụng và xử lý chất thải thân thiện với môi trường.

Thứ trưởng khẳng định Việt Nam ủng hộ việc xây dựng một thỏa thuận toàn cầu hiệu quả, khả thi, bao trùm và cân bằng; đồng thời đánh giá cao vai trò tích cực của Na Uy trong các sáng kiến quốc tế về môi trường, giảm thiểu ô nhiễm nhựa và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.

Hai bên cũng trao đổi về các ưu tiên triển khai Đối tác Chiến lược Xanh Việt Nam - Na Uy trong giai đoạn tới. Theo đó, quản lý chất thải, EPR, kinh tế tuần hoàn, giảm ô nhiễm nhựa, bảo vệ môi trường biển và hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi xanh được xác định là những lĩnh vực hợp tác trọng tâm.

Thứ trưởng Lê Công Thành đề nghị phía Na Uy tiếp tục hỗ trợ Việt Nam về nguồn lực tài chính, chuyên gia và kinh nghiệm kỹ thuật trong các lĩnh vực mà Na Uy có nhiều thế mạnh như EPR, DRS, quản lý chất thải, kinh tế tuần hoàn và bảo vệ môi trường biển. Hai bên thống nhất giao các cơ quan đầu mối khẩn trương phối hợp xây dựng Kế hoạch hành động triển khai Bản ghi nhớ về Đối tác Chiến lược Xanh giai đoạn 2026 - 2028.

Ngoài lĩnh vực môi trường, hai bên cũng trao đổi về khả năng hợp tác trong các lĩnh vực lưu trữ các-bon, nuôi biển bền vững, thủy sản, lâm nghiệp và các giải pháp hỗ trợ quá trình chuyển đổi xanh, phát triển bền vững.

Trong chuyến công tác, Thứ trưởng đã đến thăm Tổ chức quốc tế về bảo tồn thiên nhiên của Na Uy (WWF Na Uy) và có cuộc họp song phương với Tổng giám đốc WWF (CEO) Na Uy, Bà Karoline Andaur. Tại cuộc họp, Tổng giám đốc Karoline vui mừng thông báo với Thứ trưởng về những kết quả hợp tác rất hiệu quả với Việt Nam thông qua Dự án Huế - Đô thị giảm nhựa 2021-2025 với những kết quả rất ấn tượng, đồng thời nhấn mạnh việc tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong các nỗ lực giải quyết vấn đề ô nhiễm chất thải nhựa, đặc biệt là thông qua các giải pháp EPR và DRS.

Thứ trưởng đã thay mặt Đoàn công tác cảm ơn sự quan tâm hỗ trợ của WWF Na Uy thời gian qua thông qua WWF Việt Nam. Thứ trưởng cho rằng những kinh nghiệm, công nghệ và phương thức quản lý tiên tiến của Na Uy rất quý giá đối với Việt Nam và mong muốn rằng những kết quả thực tiễn từ Dự án ở Huế tiếp tục được WWF Na Uy quan tâm hỗ trợ để nhân rộng trong thời gian tới. Ngoài ra, Thứ trưởng cũng đánh giá cao các kinh nghiệm về quản lý và bảo tồn tài nguyên sinh thái biển, hy vọng hai bên sẽ có cơ hội mở rộng quan hệ hợp tác trong lĩnh vực liên quan đến bảo tồn biển. Nhân dịp này, Tổng Giám đốc Karoline cùng các đồng nghiệp cũng đánh giá cao vai trò dẫn dắt của Việt Nam trong quá trình đàm phán Thỏa thuận toàn cầu về ô nhiễm nhựa, mong muốn Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo trong thời gian tới để đóng góp tích cực vào quá trình đàm phán.

Làm việc với Tổng giám đốc WWF (CEO) Na Uy, Bà Karoline Andaur. Ảnh: PV.

Làm việc với Tổng giám đốc WWF (CEO) Na Uy, Bà Karoline Andaur. Ảnh: PV.

Cơ sở quan trọng để hoàn thiện chính sách tại Việt Nam

Những kinh nghiệm thu nhận được từ chuyến công tác cho thấy EPR chỉ có thể phát huy hiệu quả đầy đủ khi được triển khai trong một hệ thống quản lý chất thải đồng bộ, có sự tham gia tích cực của doanh nghiệp, cơ sở tái chế, người tiêu dùng và cơ quan quản lý nhà nước. Đặc biệt, việc gắn kết EPR với phân loại chất thải tại nguồn, phát triển thị trường vật liệu tái chế và các chính sách kinh tế tuần hoàn là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của hệ thống.

Các kết quả làm việc tại Đức và Na Uy sẽ là nguồn thông tin thực tiễn quan trọng phục vụ quá trình nghiên cứu, hoàn thiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, quản lý chất thải và trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất tại Việt Nam; đồng thời góp phần thúc đẩy triển khai hiệu quả Đối tác Chiến lược Xanh Việt Nam - Na Uy trong thời gian tới.

Chuyến công tác cũng tiếp tục khẳng định quyết tâm của Việt Nam trong việc thúc đẩy tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn và tăng cường hợp tác quốc tế nhằm giải quyết các thách thức môi trường toàn cầu, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và phát thải thấp.

Nguồn tin: nongnghiepmoitruong.vn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây