Do đặc thù tiêu thụ năng lượng lớn và phát thải khí nhà kính cao, giao thông vận tải trở thành một trong các lĩnh vực ưu tiên giảm phát thải hàng đầu của Chính phủ. Lộ trình cụ thể được phân bổ xuyên suốt 5 phân ngành trọng yếu: Đường bộ, giao thông đô thị, đường sắt, đường thủy nội địa và hàng hải, hàng không.
Ưu tiên thúc đẩy sử dụng nhiên liệu sạch
Tại Việt Nam, hoạt động tiêu thụ năng lượng chiếm tỷ trọng phát thải lớn nhất và riêng lĩnh vực giao thông vận tải (GTVT) chiếm khoảng 14-15% phát thải năng lượng. Dự báo theo kịch bản thông thường (BAU), lượng phát thải từ GTVT sẽ tăng lên 88,1 triệu tấn CO2tđ vào năm 2030. Tăng trưởng phát thải song hành với quá trình công nghiệp hóa, tốc độ đô thị hóa cao và gia tăng thu nhập bình quân đầu người, kéo theo nhu cầu sở hữu phương tiện và mở rộng vận tải hàng hóa.
Theo Bộ Xây dựng, có 5 phương thức vận hành song song là đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng hải và hàng không. Trong đó, đường bộ vẫn chiếm ưu thế tuyết đối với hơn 70% khối lượng hàng hóa và hơn 90% hành khách.
Tương ứng, giao thông đường bộ cũng chiếm tới 85% tổng lượng phát thải phát thải khí nhà kính từ GTVT, trong khi các phương thức vận tải có phát thải thấp và hiệu quả kinh tế cao về cự ly dài như đường sắt và đường thủy nội địa vẫn chưa phát huy được tiềm năng.
Để định hình hướng đi căn cơ góp phần đạt được mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí các-bon và khí mê-tan của ngành giao thông vận tải. Mục tiêu giai đoạn đến năm 2030, Việt Nam sẽ đẩy mạnh chuyển đổi phương tiện sử dụng điện, năng lượng xanh ở những lĩnh vực đã sẵn sàng về công nghệ, thể chế và nguồn lực; mở rộng phối trộn nhiên liệu sinh học; từng bước hoàn thiện hạ tầng trạm sạc điện.
Giai đoạn 2031 - 2050, thực hiện chuyển đổi toàn diện phương tiện, thiết bị, kết cấu hạ tầng giao thông sang điện và năng lượng xanh, đưa phát thải ròng khí nhà kính về "0" vào năm 2050.

Lộ trình giảm phát thải trải rộng 5 phân ngành trọng yếu của ngành giao thông vận tải. Ảnh minh họa: Khánh Ly.
Giảm phát thải ngành lĩnh vực giao thông vận tải tạo ra các lợi ích song hành về: cải thiện chất lượng không khí, giảm tắc nghẽn và tai nạn giao thông, cải thiện sức khỏe cộng đồng, tạo thêm việc làm xanh và thúc đẩy phát triển kinh tế.
Lộ trình cụ thể được phân bổ xuyên suốt 5 phân ngành trọng yếu: Đường bộ, giao thông đô thị, đường sắt, đường thủy nội địa và hàng hải, hàng không. Trong đó, chuyển đổi xanh thể hiện qua hệ thống các giải pháp đồng bộ, gắn phát triển vận tải với mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, tiết kiệm năng lượng. Đặc biệt, ưu tiên thúc đẩy sử dụng nhiên liệu sạch, hỗ trợ thay thế dần phương tiện cũ, lạc hậu; đầu tư hạ tầng xanh như bến cảng, kho bãi, trung tâm logistics thân thiện môi trường.
Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường PGS.TS Nguyễn Đình Thọ nhận định, việc phối hợp nhịp nhàng giữa quá trình điện khí hóa giao thông với xanh hóa lưới điện bằng các nguồn năng lượng tái tạo sẽ tạo ra tác động cộng hưởng. Xe điện chỉ phát huy tối đa lợi ích khi được sạc bằng nguồn năng lượng sạch, từ đó đóng góp hiệu quả cho mục tiêu Net Zero của quốc gia.
Giảm phát thải phù hợp với đặc thù vận tải
Không dừng lại ở việc thay thế nhiên liệu hóa thạch bằng xe điện, mục tiêu cốt lõi của ngành là giảm phát thải toàn diện và xây dựng một hệ thống giao thông thực sự bền vững.
Triển khai chương trình hành động của Chính phủ, đến tháng 5/2026, cả nước có gần 375.000 phương tiện điện lưu hành, gồm hơn 369.000 ô tô điện, trên 1.500 xe buýt điện và hàng nghìn xe tải điện. Nhiều địa phương đã đưa xe buýt điện vào hoạt động, góp phần giảm phát thải, giảm ô nhiễm và nâng cao chất lượng vận tải công cộng.
Cùng với đó, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phương tiện điện, trạm sạc và kiểm định đang được hoàn thiện; các chương trình phát triển giao thông công cộng, vận tải đa phương thức, đường sắt đô thị và nhiên liệu sinh học cũng được thúc đẩy.

Loạt xe bus điện tại TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: HTV.
Theo ông Lê Kim Thành - Vụ trưởng Vụ Vận tải và An toàn giao thông (Bộ Xây dựng), chuyển đổi xanh phải bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu giảm phát thải với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh năng lượng và hoạt động vận tải thông suốt phục vụ sản xuất, kinh doanh cũng như nhu cầu đi lại của nhân dân; chuyển đổi xanh không chỉ là thay thế xe chạy nhiên liệu hóa thạch bằng xe điện, mà còn là xây dựng hệ sinh thái năng lượng sạch với hạ tầng, công nghệ và chính sách được phát triển đồng bộ, phù hợp từng phương thức vận tải.
Ông Thành nhấn mạnh, đối với giao thông đường bộ, điện hóa được dự báo sẽ giữ vai trò chủ đạo trong quá trình chuyển đổi năng lượng xanh những thập niên tới. Tuy nhiên, đây không phải là lời giải duy nhất.
Xe điện sẽ phát triển mạnh trong lĩnh vực vận tải đường bộ, nhất là giao thông đô thị, nhưng với vận tải hàng hóa đường dài, hàng hải và hàng không, quá trình chuyển đổi sẽ phức tạp hơn do hạn chế về công nghệ lưu trữ năng lượng.
Với đường bộ, cự ly hoạt động và khả năng bố trí trạm sạc tương đối phù hợp với công nghệ pin hiện nay. Trong khi đó, tàu biển phải vận hành liên tục trên các tuyến quốc tế, nên nếu sử dụng hoàn toàn pin sẽ cần khối lượng pin rất lớn, làm tăng trọng lượng và giảm hiệu quả khai thác.
Với hàng không, thách thức còn lớn hơn khi máy bay đòi hỏi nguồn năng lượng có mật độ rất cao nhưng khối lượng phải tối thiểu. Vì vậy, nhiên liệu phản lực vẫn sẽ giữ vai trò chủ đạo trong thời gian tới.
Đối với hàng hải và hàng không, xu hướng chung của thế giới là kết hợp đổi mới công nghệ động cơ, tối ưu vận hành, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và từng bước chuyển sang các loại nhiên liệu phát thải thấp như nhiên liệu hàng không bền vững (SAF), methanol xanh, amoniac xanh và hydro, thay vì chỉ tập trung vào điện hóa.

Hàng không sẽ từng bước chuyển đổi sang sử dụng nhiên liệu bền vững. Ảnh: Johnson Matthey.
“Thuận lợi lớn hiện nay là quyết tâm chính trị từ Trung ương đến địa phương, nhận thức của người dân và doanh nghiệp ngày càng nâng cao, trong khi công nghệ xanh trên thế giới phát triển nhanh và chi phí dần hợp lý hơn”, ông Thành chia sẻ.
Theo bà Trịnh Thị Bích Thủy, Cán bộ Chương trình Giao thông điện (UNDP): Các quốc gia, trong đó có Việt Nam đang hoàn thiện báo cáo Đóng góp do quốc gia tự quyết định cập nhật lần thứ ba (NDC 3.0). Thực tế đánh giá nỗ lực giảm phát thải thời gian qua cho thấy, thế giới cần cần phải đặt mục tiêu giảm phát thải cao hơn cho giai đoạn đến từ nay đến năm 2035 cũng với hệ thống giải pháp khả thi, đặc biệt ưu tiên chuyển đổi năng lượng, công nghiệp và giao thông.
Mặt khác, tài chính các-bon được xác định là nguồn lực bổ sung quan trọng để bù đắp chi phí chuyển đổi công nghệ giao thông, đặc biệt thông qua các cơ chế theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris (hợp tác song phương chuyển giao kết quả giảm phát thải theo Điều 6.2 và cơ chế thị trường tập trung toàn cầu theo Điều 6.4). Lượng CO2 giảm được hoàn toàn có thể trở thành tín chỉ các-bon nếu được đo đạc, báo cáo, thẩm định đúng quy trình, và tiềm năng còn rất lớn.
Theo Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam, đến năm 2030, GTVT cần cắt giảm 45,62 triệu tấn CO2 bằng các nỗ lực trong nước. Mức giảm phát thải tăng lên 88,25 triệu tấn CO2tđ khi có sự hỗ trợ quốc tế.
Dự tính nhu cầu tài chính tương ứng khoảng 2,5 tỉ USD và gần 8,2 tỉ USD.
